Một số thành phần cú pháp chính trong JavaScript

– Khoảng trắng

Dấu cách, tab và ký tự dòng mới sử dụng bên ngoài một chuỗi ký tự được gọi là khoảng trắng. Khác với tubor C, khoảng trắng trong JavaScript có thể ảnh hưởng trực tiếp tới ý nghĩa của câu lệnh. Sử dụng phương pháp “tự động thêm dấu chấm phẩy”, bất cứ một dòng JavaScript nào thích hợp sẽ được coi là một câu lệnh hợp lệ (giống như có dấu chấm phẩy trước ký tự dòng mới).

Tuy trong phần lớn trường hợp, dấu chấm phẩy trước khi kết thúc một dòng JavaScript là không cần thiết để đoạn mã nguồn hoạt động chính xác, lập trình viên nên sử dụng dấu chấm phẩy sau mỗi câu lệnh để đoạn mã nguồn dễ nhìn hơn. Ngoài ra, do đặc thù của JavaScript – chuyên dùng trên trang web, kích cỡ của đoạn mã nguồn là quan trọng, có một số phần mềm có thể làm giảm kích cỡ của đoạn mã nguồn JavaScript bằng cách bỏ đi những khoảng trắng không cần thiết, để những phần mềm này hoạt động chính xác, lập trình viên cần thêm dấu chấm phẩy vào cuối mỗi câu lệnh.

– Chú giải

Cú pháp chú giải của JavaScript giống với C++. Lập trình viên có thể chú giải trên nhiều dòng bằng cách bao bọc chú giải với /* và */ hoặc sử dụng // để chú giải từ vị trí // đến hết dòng.

– Biến

Trước khi sử dụng biến trong JavaScript, lập trình viên không nhất thiết phải khai báo biến. Có hai cách để định nghĩa biến trong JavaScript. Một là sử dụng cú pháp var để khai báo biến:

<script language=”JavaScript”>
var tên_của_biến;
</script>


Ngoài ra, lập trình viên có thể chỉ việc gán cho biến một gía trị để sử dụng biến đó. Biến được định nghĩa ngoài tất cả các hàm hoặc được sử dụng mà không khai báo với cú pháp var sẽ được coi là biến toàn cục, những biến này có thể sử dụng trên toàn trang web. Biến được khai báo với var bên trong một hàm là biến cục bộ của hàm đó và chỉ có thể sử dụng được bên trong hàm đó.

– Đối tượng

Kiểu của JavaScript được chia ra làm hai loại: kiểu cơ bản và đối tượng.

– Đối tượng trong JavaScript là một thực thể có tên xác định và có thuộc tính trỏ đến giá trị, hàm hoặc cũng có thể là một đối tượng khác. Có nghĩa là, đối tượng trong JavaScript là một mảng kết hợp (associative array) tương tự như mảng trong PHP hay từ điển trong Python, PostScript hoặc Smalltalk.

JavaScript có một số đối tượng định nghĩa sẵn, bao gồm mảng (Array), đối tượng đại số Bool (Boolean), đối tượng ngày tháng (Date), đối tượng hàm (Function), đối tượng toán học (Math), đối tượng số (Number), đối tượng đối tượng (Object), đối tượng biểu thức tìm kiếm (RegExp) và đối tượng chuỗi ký tự (String). Các đối tượng khác là đối tượng thuộc phần mềm chủ (phần mềm áp dụng JavaScript – thường là trình duyệt).

Bằng cách định nghĩa hàm khởi tạo, lập trình viên có thể tạo đối tượng. JavaScript là một ngôn ngữ lập trình dựa trên nguyên mẫu do đó thừa kế diễn ra giữa các đối tượng, không phải giữa các lớp (JavaScript không hề có lớp). Đối tượng thừa kế thuộc tính từ các nguyên mẫu của chúng.

Lập trình viên có thể thêm hoặc xóa thuộc tính hoặc hàm trong đối tượng sau khi đối tượng đã được tạo. Để làm việc này cho tất cả các đối tượng được tạo từ cùng một hàm khởi tạo, lập trình viên có thể sử dụng thuộc tính prototype của hàm khởi tạo để truy cập đối tượng nguyên mẫu. Lập trình viên không nhất thiết phải tự xóa các đối tượng đã tạo, JavaScript tự động gom rác tất cả những biến không còn được dùng nữa.

Ví dụ:

<script language=”JavaScript”>
function samplePrototype() {
this.attribute1 = “someValue”; /* thêm một thuộc tính cho đối tượng*/
this.attribute2 = 234; /* thêm thuộc tính nữa cho đối tượng*/
this.function1 = testFunction; /* thêm một hàm vào đối tượng*/
}

function testFunction() {
alert(this.attribute2); /*hiển thị 234*/
}

var sampleObject = new samplePrototype; /*  khởi tạo một đối tượng*/
sampleObject.function12(); /*  gọi hàm function12 của đối tượng sampleObject*/

sampleObject.attribute3 = 123; /*  thêm một thuộc tính nữa cho đối tượng sampleObject*/

delete sampleObject.attribute1; /*  xóa bỏ 1 thuộc tính*/
delete sampleObject; /*  xóa bỏ đối tượng*/
</script>


– Cấu trúc dữ liệu

Một cấu trúc dữ liệu tiêu điểm là mảng (Array), mảng trong JavaScript là một bảng liên kết chỉ mục đến giá trị. Trong JavaScript, tất cả các đối tượng đều có thể liên kết chỉ mục đến giá trị, nhưng mảng là một đối tượng đặc biệt có thêm nhiều tính năng xử lý chỉ mục và dữ liệu đặc biệt (ví dụ: push, join, v.v.)

Mảng trong JavaScript có thuộc tính length. Thuộc tính length của JavaScript luôn luôn lớn hơn số chỉ mục lớn nhất trong mảng một đơn vị. Trong phần lớn ngôn ngữ lập trình, những thuộc tính có tính năng như length thường là thuộc tính chỉ đọc, tuy nhiên, với JavaScript, lập trình viên có thể thay đổi thuộc tính length. Bằng cách thay đổi thuộc tính length, lập trình viên có thể làm mảng lớn hơn hoặc nhỏ hơn (và xóa đi những chỉ mục lớn hơn hoặc bằng thuộc tính length mới).

Mảng trong JavaScript là mảng rải rác, có nghĩa là cho dù lập trình viên có một mảng như sau:

<script language=”JavaScript”>
var test = new Array();
test[2] = 0;
test[100] = 5;
</script>

Trong trường hợp này, dù mảng có đến chỉ mục mang số 100 thì mảng cũng chỉ chiếm bộ nhớ của hai số 0 và 5. Tuy nhiên, thuộc tính length sẽ có giá trị 101 do chỉ mục lớn nhất của mảng trong ví dụ trên là 100.

Một số ví dụ về mảng:

<script language=”JavaScript”>
var test = new Array(70); // Tạo một mảng 70 chỉ mục
var test2 = new Array(0,1,2,,3); // Tạo một mảng với bốn giá trị và 5 chỉ mục
var test3 = new Array();
test3[“1”] = 123; // Hoàn toàn đúng cú pháp
</script>


Lập trình viên cũng có thể định nghĩa cấu trúc bằng đối tượng như sau:

<script language=”JavaScript”>
var myStructure = {
name: {
first: “Mel”,
last: “Smith”
},
age: 33,
hobbies: [ “chess”, “jogging” ]
};
</script>


Cú pháp định nghĩa cấu trúc bằng đối tượng trên có một chuẩn trên danh nghĩa là JSON.

Chúc bạn thành công

FOLLOW US

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *